• Tue. Nov 29th, 2022

Team Music

Tin tức âm nhạc giải trí mới hot nhất

Sống theo logic của rừng

ByBich Ngoc

Sep 29, 2022
Rate this post

Rơ Ông Ha Tin, người K’Ho ở vùng Đông K’nông (Lạc Dương), cùng tôi đứng trên sườn núi. Chỉ tay về những ngọn núi cao chót vót trước mặt, anh ta nói: “Từ xưa đến nay, người dân trong làng chúng tôi đều cho rằng, đỉnh Yu Till trên núi Dương Hậu là nơi rừng thiêng nước độc, có một ngọn giáo thiêng cắm trên một tảng đá khổng lồ. Không ai dám trèo lên đó, chặt cây, săn thú. Nếu ai vào lấy bất cứ thứ gì từ rừng thiêng Yu Till, thì Yang sẽ bị trừng trị rất nặng, có khi buộc phải chết… ”.



Rừng nguyên sinh Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà.  Ảnh: Chính Thanh
Rừng nguyên sinh Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà. Ảnh: Chính Thanh

Tuy nhiên, tôi nhìn thấy dãy núi Dương Hậu bên dòng sông Đa Lôi ở thượng nguồn K’rông Nô hiện ra trước mắt một vẻ đẹp vô cùng hùng vĩ, định rủ Hạ Tín đến đó một chuyến. Tôi hỏi, Hà Tín đã bao giờ nhìn thấy một cây thánh giáo cắm trên một tảng đá thiêng chưa? Anh nói, nghe ông bà nói vậy nhưng tôi chưa bao giờ dám đặt chân đến đó.

RỪNG NGỌT CỦA THÁNH RỪNG

Câu chuyện tô màu huyền thoại của Hà Tín, người dân vùng Đưng K’no, gợi cho tôi nhớ đến núi rừng thiêng liêng có mặt ở Tây Nguyên. Không chỉ linh thiêng, núi rừng vùng cao này vừa là không gian sinh tồn, vừa là không gian văn hóa đặc trưng. Giữa bạt ngàn rừng núi, những con người hàng nghìn năm ẩn mình dưới tán rừng đã chọn cho mình cách sống theo logic của rừng, mà đỉnh cao là trí tuệ rừng được trui rèn qua thời gian. những thay đổi.

Bao năm rong ruổi khắp chốn thôn quê của những người dân thượng du, tôi cảm thấy núi rừng đối với họ vừa huyền bí, hoang sơ, vừa thân thiết, gần gũi. Ở Tây Nguyên này, nơi nào có núi rừng, có thần thánh. Cả không gian của đại ngàn là nơi ở của các vị thần, ở đâu núi càng cao, rừng sâu thì thần linh ở đó càng linh thiêng. Tôi đã thấy người dân Nam Tây Nguyên tôn kính rất nhiều vị thần của họ. Họ là Yang N’du, người tạo ra trời và đất, sau đó là Yang Bnom (Thần Núi), Yang Bri (Thần Rừng), Yang Ù (Thần Đất), Yang Da (Thần Nước), Yang Mattanga ( Thần Mặt Trời), Yang Konhai (Thần Mặt Trăng), Yang Tiah (Thần Đất), Yang Tro (Thần Bầu Trời) và gần gũi, thân thiết như Yang Koi (Thần Lúa) lo cơm nước. hoặc Dương Hưu (Thần nhà) lo việc thu xếp chỗ ở. Hiện hữu bên cạnh những vị thần phù hộ độ trì là muôn loài ma quỷ hiện hữu giữa núi rừng huyền bí, được người đời gọi với cái tên chung là “mắc ca”. Các vị thần trong tâm trí của cư dân rừng, được giao mỗi người một công việc. Thần cũng cần mẫn ngày đêm sắp xếp cuộc sống và sự nghiệp, ăn uống, chăm lo cho sự sinh thành của muôn loài sống trong rừng. Trong khi các vị thần hết lòng phù trợ cho sự thịnh vượng của làng, chứng kiến ​​những điều tốt đẹp của cộng đồng cư dân và trừng phạt những kẻ làm việc xấu, thì những thế lực “lồng lộn” lại miệt mài rình rập và hãm hại đồng lương của người dân. . Người Tây Nguyên nương náu dưới tán rừng, vừa phải lo lễ cúng cho thần linh thích ưng bụng, vừa phải làm vui lòng ma quỷ. Ngoài yếu tố tín ngưỡng đa thần “vạn vật hữu linh”, đó là cách cư dân rừng đối phó với các thế lực siêu nhiên để cân bằng đời sống tâm linh của chính mình…



Người dân Tây Nguyên luôn sống chan hòa với thiên nhiên
Người dân Tây Nguyên luôn sống chan hòa với thiên nhiên

TÔN TRỌNG, PHÙ HỢP VỚI THIÊN NHIÊN

Các dân tộc bản địa Tây Nguyên đã hàng nghìn năm sống giữa không gian rộng lớn, nhưng họ chưa bao giờ tự nhận mình là chủ nhân của núi rừng. Trò chuyện với nhiều già làng, già làng, tôi hiểu rằng người dân coi thiên nhiên như một cách tham gia vào cuộc sống hoang dã. Chúng tự cho mình là một thực thể cộng sinh, là một phần của hàng nghìn loài sinh vật tự nhiên. Không dám phán xét, nhưng yêu cầu tôn trọng mạch suy nghĩ, một thái độ thể hiện sự tôn trọng và hài hòa giữa con người với không gian sinh tồn của họ. Sự hùng vĩ vĩ đại và tính nhân văn được thêm vào bởi hệ thống trí tuệ rừng, bởi vì cuộc sống của con người giữa vực thẳm bao la của thiên nhiên.

Nhìn vào mắt Rơ Ông Ha Tin, tôi nghĩ rằng anh đang nói về chốn rừng thiêng nơi anh sống với tâm thế lịch thiệp, tự giác thực hiện quy ước giữa thần linh và con người từ xa xưa. Thần linh có linh hồn của họ, con người có phúc khí của họ. Giữa thiên nhiên hoang sơ và bí ẩn, con người tuy nhỏ bé, nhưng nhỏ bé trong một tư thế ngang hàng. Trước núi rừng, trong tâm hồn người rừng vừa có sự sợ hãi vốn có, vừa có sự quen thuộc hàng ngày. Họ tìm kiếm đối thoại để thêm hiểu biết để giải quyết. Họ tìm cách điều trị thông qua các nghi lễ để đạt được sự thỏa hiệp và hòa hợp với các hành vi đã trở thành phong tục. Và rồi, không biết từ bao giờ, lý do sống trong rừng cũng theo logic của rừng. Trong lành và xanh tươi. Bình yên và thịnh nộ. Nhân từ và tàn nhẫn. Nhẹ nhàng và bạo lực. Trải qua bao nhiêu năm tháng, sống giữa vùng đất hoang vu rộng lớn với vô vàn hiểm họa và vô vàn cơ hội, người dân xứ rừng đã trải qua những năm tháng gian khó và để lại một hệ thống di sản văn hóa đa dạng và phong phú. truyền đạt một kho tàng kiến ​​thức bản địa vô giá…

Một ông già tên là Ye Long Ya Loan đến từ Churu ở vùng Đơn Dương nói với tôi: “Đã từng có thời du canh, phát rừng làm rẫy nhưng người dân chúng tôi trước đây không tự ý chặt phá rừng. Người K’Ho, Mạ, Churu không phá rừng đầu nguồn. Là những cư dân “ăn rừng” để mưu sinh, việc khai thác lâm sản của ông bà ta ngày xưa chỉ dừng lại ở nhu cầu ăn, ở, sinh hoạt của cộng đồng chứ chưa tạo ra lợi nhuận.. Không được chặt cây, săn bắt thú rừng đầu nguồn, theo các già làng, nếu tự ý chặt, bắt ở những khu rừng này sẽ bị thần linh trừng phạt, mất mùa, bệnh tật, chết người. Thực tế sống trong rừng, người Tây Nguyên nhận thức sâu sắc giá trị của rừng đầu nguồn đối với việc bảo tồn và phát triển hệ sinh thái tự nhiên. Khi làm nương rẫy, đồng bào còn trừ rừng trên đỉnh núi. Nhiều người nói: “Hãy giữ nó để các vị thần có nơi ở. Nhưng thực sự bản chất của cách ứng xử này là khoa học, kiến ​​thức và kinh nghiệm được trui rèn qua nhiều thế hệ người bản địa. Người dân Tây Nguyên hiểu rằng những cánh rừng này có khả năng chống lũ, chống xói mòn; Đồng thời, nó còn là tác nhân tái sinh cây dại khi ruộng bị bỏ hoang trong quá trình luân canh cây trồng.

Trước đây, nếu thiếu vài cây gỗ để làm nhà, làm quan tài, các gia đình xin phép chủ làng rồi đem lễ vật tại vị trí cây bị đốn hạ để xin phép các cụ. các vị thần. Theo lời kể của các già làng, trước đây, mỗi khi người dân trong làng chặt cây về phải cúng Yang Bri (Thần Rừng). Lễ vật có gà, lợn hoặc dê và không thể thiếu rượu. Tín ngưỡng thờ Thần rừng có kiêng, nếu xóa bỏ được những đám sương mù bí ẩn, có thể xem đây là một phương pháp tác động vào thiên nhiên một cách khoa học, ngăn chặn những hành động phá rừng vô lối …

Người K’Ho hát rằng: “Sông suối là tài sản chung / Cá dưới suối ai xẻng được / Bắt ếch con bỏ ếch mẹ / Chặt cây tre cứu măng / Đốt tổ ong cứu ong chúa / Bẫy cá bằng thuốc sẽ nghèo suối. .. “ Luật tục của người Mạ cũng quy định rõ rừng nào được phép, rừng nào không được tự ý chặt phá, khai thác: “Bre krong, scowl / Bre Yang, scowl / Brerolau, eh dós…” (Rừng thiêng, bị trừng phạt / Rừng thần, bị trừng phạt / Rừng bình thường, gì cũng được …). Với kiến ​​thức và kinh nghiệm, từ xa xưa, cư dân rừng đã có ý thức cao trong việc bảo vệ tài nguyên. Phương thức hành động và ứng xử chứa đựng tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng thiên nhiên. Quy ước bảo vệ rừng được thể hiện rõ trong vần pon dik-pon ding, nrí-nrinh (luật tục) của cộng đồng. Ở đó, quyền lợi gắn liền với trách nhiệm và hình phạt. Trách nhiệm là chính, trong khi trừng phạt có chức năng củng cố trách nhiệm. Không phân biệt người trong hay ngoài cộng đồng, hễ vi phạm vào rừng thiêng đều bị phạt theo luật tục: nhẹ thì phải cúng con gà, con chó rượu; Nếu nặng thì phải cúng dê, trâu để tạ tội Thần Rừng. Trong cộng đồng người Mạ, khi một người đàn ông đến tuổi trưởng thành, bản thân anh ta mới nhận ra rằng mình đã mang rất nhiều “món nợ”: nợ cha mẹ, họ hàng, làng xóm, nợ thần linh, núi rừng đã nuôi sống mình. Chính vì ý thức mang “món nợ” tinh thần ấy nên khi “ăn rừng”, người Mạ chỉ lấy của rừng những thứ mình cần, vừa đủ, không dư thừa, lãng phí hay lấy nhiều tích góp. . Vì khi lấy đi một sản vật nào đó của rừng, anh ta đã nợ thần núi, thần rừng một giá trị tương đương mà đôi khi phải trả bằng mạng sống của mình …

PHỤC HỒI RỪNG CỦA RỪNG.

Trong những chuyến đi thực tế cùng các nhà nghiên cứu văn hóa hay tham gia các đoàn khảo sát về lâm nghiệp, chúng tôi đã tiếp thu được nhiều kiến ​​thức liên quan đến thiết chế “làng – rừng” truyền thống. Một điều cơ bản được kế thừa sâu sắc từ xã hội Tây Nguyên xưa, mà chúng tôi rất đồng tình với nhận định của nhà nghiên cứu Nguyên Ngọc: “Trong sâu thẳm tâm hồn người dân, có tình cảm máu thịt. Với một lòng thành kính thiêng liêng đối với rừng, họ coi là cây rừng như một sinh thể, có linh hồn, cũng đầy cảm xúc, cũng vui, cũng sướng, cũng khổ, người Tây Nguyên sống theo “đạo lý của rừng”, vươn tới sự hoàn thiện, khôn như rừng. rừng, con người và cộng đồng mất đi nền tảng rộng lớn, vững chắc, sâu thẳm, trở nên bơ vơ, xa lánh, mất gốc, mất gốc Văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng, là toàn bộ đời sống văn hoá, từ hệ giá trị đến những tín hiệu nhỏ , là biểu hiện của mối quan hệ gắn bó, máu thịt của con người, cộng đồng với rừng, ông Nguyên Ngọc cũng từng khái quát rằng, bản Tây Nguyên xưa kia sở hữu nhiều loại rừng: rừng thiêng; sts đã trở thành đất ở; rừng sống và rừng sản xuất. Tất cả những kiểu rừng đó đã kết hợp với nhau để tạo thành một không gian sống, đồng thời tạo nên một không gian xã hội. Và như vậy, làng ở Tây Nguyên là một thiết chế “làng – rừng” …

Trong quá khứ, hàng nghìn đời ẩn mình dưới tán rừng, cư dân trong rừng đã tạo nên một hệ thống trí tuệ hài hòa với lý trí của rừng; vừa thiêng liêng, gần gũi, nhân văn và cũng vô cùng thiết thực. Ngày nay, thể chế xã hội, sinh kế và niềm tin của người dân đã có những thay đổi quan trọng. Rừng Tây Nguyên hiện nay là một phần của kho tàng tài nguyên thiên nhiên quốc gia; Đồng bào dân tộc thiểu số trở thành lực lượng quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển vốn rừng. Vì vậy, khôi phục “tâm thế” rừng để phát triển bền vững Tây Nguyên chính là khôi phục hệ sinh thái đa dạng, độc đáo, khôi phục không gian văn hóa ngàn năm, khôi phục hệ thống khôn rừng mà đồng bào đã từng thụ hưởng. được tạo dựng, nuôi dưỡng và lưu truyền qua nhiều thế hệ.

HOAN NGHÊNH

Leave a Reply

Your email address will not be published.